|

LÁ THƯ HẢI NGOẠI & MỘT TÂM SỰ CHÂN TÌNH
D.N. Trần (25.7.1992)
Sydney ngày 25.7.1992
Kính thưa chị chủ nhiệm,
Là một người Việt hiện đang sống tại Sydney (Úc Châu), rất yêu nhạc
cổ truyền Việt Nam, tôi xin phép viết thư này để bày tỏ lòng ngưỡng
mộ sâu đậm nhất của tôi đối với ban Tiếng Hát Quê Hương – ban nhạc
đã trình diễn trong cuốn băng video thu buổi tọa đàm truyền hình
với giáo sư Trần Văn Khê mà tôi đã được may mắn xem trong thời gian
vừa qua.
Thưa chị, từ trước đến giờ, tôi đã xem rất nhiều băng video cải
lương, tân nhạc, kịch của người Việt mình thực hiện ở trong nước
cũng như ở hải ngoại, nhưng chưa có cuốn nào làm tôi thích thú và
cảm động tuyệt mức bằng cuốn băng video này. Điểm đặc biệt và tối
ưu là tuy các thành viên của ban trình diễn theo phong cách mới,
nhưng âm hưởng căn bản cổ truyền vẫn được giữ nguyên vẹn, đúng như
giáo sư Khê đã nói. Thực là một cuốn băng tuyệt hay, thực giá trị
về nhạc cổ truyền dân tộc, tuy thời gian trình diễn tương đối ngắn
(tòan chương trình dài 48 phút; giáo sư Khê nói chuyện 12 phút,
phần trình diễn văn nghệ 36 phút). Rất đông bạn bè và thân bằng
quyến thuộc cũng được xem cuốn băng này; tất cả đều cùng có cảm
nghĩ và nhận xét như tôi. Ai nấy đều tấm tắc khen ngợi không tiếc
lời.
Riêng về tôi, tôi đã say mê cuốn băng đến độ hầu như mỗi ngày phải
mở ra xem, xem không biết bao nhiêu lần rồi, càng xem càng thấy
hay. Xin chị cho phép tôi mở dấu ngoặc nơi đây để chứng minh điều
này:
"Ở phần đầu, lúc giáo sư Khê nói chuyện, cô Quỳnh Phương (đàn
bầu) mặc áo dài màu đỏ gạch cua, đến màn tam tấu trở về sau cô mặc
áo dài màu trắng có vẽ hoa tím trước ngực. Cô đeo hai chiếc nhẫn
ở ngón trỏ và ngón áp út bên bàn tay phải, một chiếc nhẫn khác ở
ngón áp út bên tay trái; đó là chưa kể chiếc đồng hồ mặt trắng dây
đen ở tay phải và xâu đeo tay ở tay trái. Cậu Huỳnh Khải (đàn guitar)
không có đeo phù hiệu ở ngực phía trái như các cô và cậu đàn sến.
Riêng chị chủ nhiệm đeo phù hiệu ở bên phải. Cô Hải Phượng lúc tam
tấu và độc tấu thì mang giày màu đỏ sậm, nhưng khi hòa tấu bản Lưu
Thủy Trường – bản chót của cuốn băng – cô mang giày màu
trắng".
Thưa chị, bấy nhiêu đó cũng đủ nói lên lòng yêu thích của tôi đối
với cuốn băng đến bực nào. Chẳng những thế, tôi còn sang phần âm
thanh qua băng cassette để nghe trong xe những khi di chuyển đi
làm hằng ngày. Vừa rồi, tôi suýt gây tai nạn trong khi lái xe chỉ
vì quá chú tâm say mê theo dõi tiếng đàn tranh tuyệt diệu của cô
Hải Phượng.
Thưa chị, tôi hết sức khâm phục tài khéo léo và óc thẩm mỹ của
chị trong việc tổ chức, sắp xếp,chọn lựa thành viên và chỉ đạo cách
trang phục cho tòan ban trong buổi trình diễn. Nhìn các cô tha thướt,
duyên dáng trong chiếc áo dài cắt thật khéo, thực là một hình ảnh
đẹp tuyệt vời.
Về phần trình diễn văn nghệ, tất cả những người xem đều chấm nhất
màn tam tấu bản "Đỏan Khúc Lam Giang qua Vọng Cổ".
Cả ba thành viên biểu diễn được chọn thật là khéo về tài nghệ lẫn
sắc diện, thoạt nhìn thấy là người xem có cảm tình liền. Chị quả
thật sáng suốt nên để màn này mở đầu buổi trình diễn. Thực là một
màn hòa tấu hay và hấp dẫn không thể tả. Cả đời tôi, chưa bao giờ
tôi được nghe một màn hòa tấu nào hay như thế, dù rằng trước kia
tôi đã nhiều lần được nghe các nhạc sĩ nổi tiếng hòa đàn. Cả ba
cây đàn guitar, bầu, tranh đều rất ư xuất sắc; lối hòa tấu thật
nhịp nhàng hòa hợp và vô cùng bay bướm làm người xem hòan tòan bị
lôi cuốn vào từng tiếng đàn. Ở câu vọng cổ số 2, từ chỗ dứt lái
hò nhì đến song lang, cô Hải Phượng chuyển tiếng đàn tranh như mây
bay gió cuốn, chuyển thẳng một mạch đến song lang một cái cốp, cô
bỏ xuống chữ "xê", nhấn sang chữ "cống" một
cách quá ư tài tình và đẹp mắt. Chao ôi! Hay quá đỗi hay, hay ơi
là hay! Hay không bút mực nào tả xiết! Chỗ này, tâm trí tôi như
bay bổng lên tận chín tầng mây. Thưa chị, chính cái lái đàn chuyền
này đã làm cho tôi suýt gây tai nạn như đã nói bên trên. Ở bên nhà,
cô Hải Phượng đâu có ngờ rằng, với ngón đàn tranh làm xiêu hồn lạc
phách người nghe, cô đã vô tình làm cho một người đồng hương ở nước
ngoài phải một phen suýt đâm sầm vào đít xe người ta ở tốc độ cao
(Nếu không nhanh tay, nhanh chân phản ứng kịp thời thì không viếng
nghĩa địa cũng vào nhà thương!). Quả thực cô ấy có ngón đàn tranh
hay lạ lùng mà tôi không biết dùng từ gì để diễn tả cho hết ý. Cô
có lối sắp chữ và nhấn chữ rất là tuyệt. Trước đây, tôi đã từng
say mê tiếng đàn tranh của các danh cầm Hai Biểu, Ba Dư, Bảy Bá
(tức soạn giả Viễn Châu), nhưng bây giờ cô Hải Phượng đàn, tôi nghe
còn hay hơn, còn quyến rũ hơn tiếng đàn của các vị đó nữa. Đúng
là "hậu sinh khả úy"! Nhìn mấy ngón tay búp măng thật
đẹp của cô thoăn thoắt chạy trên phím đàn tranh, những người xem
đều trầm trồ khen ngợi. Chỗ này phải ghi điểm son cho chuyên viên
thu hình. Khán giả cũng bình phẩm về đôi mắt của cô Quỳnh Phương
như thế này: "Đôi mắt khả ái thật đấy, nhưng trông sao có vẻ
u buồn, hình như ẩn chứa một nỗi sầu vạn cổ". Tôi chia sẻ sự
đồng tình và trầm trồ với họ, và tôi còn để ý đến một điểm nữa:
đó là cả hai cô Quỳnh Phương và Hải Phượng có lẽ còn hơi "nhát"
với ống kính camera nên thường nhìn xuống, ít khi ngẩng lên cho
người xem chiêm ngưỡng. và thêm bằng chứng cụ thể nữa là trong lúc
giáo sư Khê ca bài "Ngũ Đối Hạ", cô Hải
Phượng ngồi lấy mấy ngón tay gõ và nhịp theo, trông thong dong tự
tại lắm. Bỗng ống kính thu hình "chiếu cố" ngay cô, cô
bèn nhìn chỗ khác ngay mà cặp mắt chớp lia chớp lịa. Ở một cảnh
khác, cô cũng bị ống kính thu hình chĩa thẳng về mình, nhưng lần
này cô làm gan, cốt làm ra vẻ tự nhiên như không hề nao núng, nhưng
trong ánh mắt của cô biểu hiện rõ rệt nét bối rối, mất tự nhiên
không thể chối cãi. Không phải chỉ một mình tôi mà tất cả những
người xem đều thấy như vậy, là vì chỗ này tôi cho băng hát đi hát
lại mấy lần liên tiếp để mọi người có cùng một nhận xét như tôi.
Cô Quỳnh Phương cũng thế. Ở gần cuối bản hòa tấu "Lưu
Thủy Trường", cô đang nhìn về phía trước, bỗng bị
ống kính "chiếu tướng", cô bèn nhìn xuống tức khắc. Theo
thiển ý, thái độ ấy của hai cô rất đáng ca ngợi và là ưu điểm tuyệt
đối của các thiếu nữ người Việt mình. Nó chẳng những làm tăng thêm
nét khả ái duyên dáng mà còn thể hiện một khía cạnh đáng yêu của
nền văn hóa đất nước chúng ta.
Trong màn tam tấu này, cậu Huỳnh Khải đàn guitar hay lắm, thật
xứng tay hòa tấu với hai nữ kiện tướng đàn tranh, đàn bầu Phương-Phượng.
Không sút một lái, không nhường một tiếng đàn. Tôi có cảm tình đặc
biệt với cậu ấy, cảm tình vì tài đàn guitar của cậu là đương nhiên
mà còn cảm tình vì vóc dáng nghệ sĩ của cậu nữa. Tên cậu nghe có
vẻ như Tàu, nhưng trên khuôn mặt dễ nhìn và phúc hậu của cậu thì
không thấy nét gì Tàu cả.
Dứt câu vọng cổ số 3 là dứt màn hòa tấu, tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ,
ao ước phải chi hòa tấu luôn đến 6 câu để tôi được tiếp tục thưởng
thức tài nghệ tuyệt luân của 3 cây đàn cự phách này. Tôi chịu nhứt
những chỗ xuống chữ "hò", nghe ngọt lịm làm sao, ngọt
như nước mía Viễn Đông, như mật ong thứ thượng hảo hạng.
Thưa chị, cô tóc ngắn đàn tranh trong bản "Xang Xừ
Líu" (bài "Chiều Về" do
Ngọc Tuyết ca) và cô tóc dài đàn tranh trong bài "Ngũ
Đối Hạ" (giáo sư Khê ca), cả hai cô này đều có ngón
đàn tuyệt diệu như cô Hải Phượng. Tiếc rằng tôi không biết tên hai
cô nên đành xin phép tạm gọi là "cô tóc ngắn" và "cô
tóc dài". Và tôi cũng rất lấy làm tiếc là chuyên viên thu hình
không quay gần cô tóc dài để tôi được thấy rõ dung nhan của một
nữ kiện tướng đàn tranh tài ba có lối đàn bài "Ngũ
Đối Hạ" thật tươi mát, phơi phới, ngọt ngào, linh
hoạt, sinh động, sung mãn và rộn rã, tôi thích vô cùng! Cô lại có
lối nhồi chữ sau khi xuống nhịp, nghe vừa độc đáo vừa hay làm sao!
Lần nào cũng vậy, hễ cứ đến bài "Ngũ Đối Hạ"
này là tôi cho băng hát đi hát lại mấy lần để thưởng thức tiếng
đàn tranh của cô tóc dài và tiếng đàn sến của cậu ốm – nhiều lúc
hai tiếng đàn này quyện nhau rất nghệ thuật – và cũng để cố nhận
diện cô tóc dài, nhưng vẫn không sao thấy rõ mặt mày vì chuyên viên
thu hình cô khá xa. Một người đàn tranh hay không thể tưởng tượng
như vậy, tôi ngưỡng mộ vô cùng, nhưng chẳng biết tên lại không thấy
rõ được mặt, tôi ấm ức lắm. Tôi mê tiếng đàn tranh của cô Hải Phượng
trong ba câu Vọng Cổ bao nhiêu là tôi mê tiếng
đàn tranh của cô tóc dài trong bản "Ngũ Đối Hạ"
bấy nhiêu. Những khi mệt nhọc vì công việc và những lúc có chuyện
buồn phiền, tôi thường mở bài "Đỏan Khúc Lam Giang
qua Vọng Cổ" và bài "Ngũ Đối Hạ"
ra nghe. Chỉ cần nghe ngón đàn tranh của hai cô là trong giây phút
bao nhiêu nỗi mệt nhọc và phiền muộn đều tan biến như một phép lạ.
Tôi biết nói ra thì không một ai tin cả, nhưng đối với tôi, sự thực
là như thế. Bởi vậy tôi xem cô Hải Phượng và cô tóc dài là hai thần
tượng về đàn tranh của tôi, đồng thời cũng là hai ân nhân giúp tôi
trút bỏ mọi mệt nhọc, ưu phiền trong cuộc sống thường nhật. Tôi
nói điều này với tất cả sự nghiêm chỉnh và lòng thành thật, chứ
không đời nào tôi dám bạo gan nói đùa. Tôi xin phép trở lại việc
nhận diện cô tóc dài. Nếu căn cứ vào suối tóc dài chảy về phía trước,
tràn qua bờ vai bên phải, tôi đóan chừng cô có lẽ là một trong hai
người đàn tỳ bà trong màn hòa tấu "Lưu Thủy Trường",
nhưng chẳng biết có đúng không? Nếu đúng thế thì cô quả là một người
tài sắc vẹn tòan như cô Hải Phượng vậy. Còn nếu đóan sai thì tôi
đành chịu thua, mặc dù đã để ra rất nhiều thời giờ cố nhận diện
bằng đủ mọi cách, kể cả cách suy loại, so sánh và bấm cho hình dừng
lại trên màn ảnh. Cậu ốm đàn sến tài tình lắm, nhứt là cậu đưa hơi
và quyện theo tiếng đàn tranh ở bản "Ngũ Đối Hạ"
và "Nam Xuân", thật là tuyệt, tuyệt,
tuyệt! Cậu có lối chuyền tiếng đàn giống như nhạc sĩ Năm Cơ. Tôi
không dám bảo là cậu đàn giỏi hơn ông Năm Cơ, nhưng dứt khoát là
tôi thích ngón đàn sến của cậu hơn. Cậu trông còn quá trẻ, thế mà
đã lập gia đình rồi (căn cứ vào chiếc nhẫn cậu đeo). Sắp cuối bài
"Ngũ Đối Hạ", tiếng guitar của cậu Huỳnh
Khải trỗi bật lên với mấy cái nhấn chữ nghe thật là hay, tôi chịu
chỗ này lắm. trong phần trình diễn của cô Ngọc Tuyết (bài "Chiều
Về", điệu Xang Xừ Líu), những người
xem bàn tán sôi nổi về mái tóc quá dài của cô. Người thì bảo là
tóc thật, kẻ khác lại nói tóc giả. Bởi vì nếu là tóc thật thì làm
sao cô dám đi xe cúp? Ngộ nhỡ xe đang chạy mà mái tóc cô vướng vào
bánh xe thì cô đâu còn có thể hát bài "Chiều Về"
ở những lần sau. Có một cảnh mà những người xem đều chú ý, đó là
cậu đàn sến ngồi lưng thẳng băng như pho tượng, còn cậu đàn cò thì
ngồi lưng cong vòng. Hai hình ảnh tương phản kế bên nhau ấy khiến
người xem khó nín cười – dĩ nhiên là cười với nhiều thiện cảm. Tôi
hơi thất vọng về câu vô đầu đàn tranh của cô Hải Phượng trong bản
"Nam Xuân" (bài "Tô Huệ
Chức cẩm hồi văn" do giáo sư Khê ca), nghe rời rạc
quá, không như câu vô đầu bài "Ngũ Đối Hạ"
của cô tóc dài. Một Hải Phượng với ngón đàn thần kỳ ở màn tam tấu
và độc tấu làm cho tôi cực kỳ xúc động như "bay bổng lên tận
chín tầng mây" bao nhiêu, thì ở bản "Nam Xuân"
này cô đàn cũng như các nhạc sĩ đàn tranh khác trong các vở cải
lương mà tôi xem. Đành rằng điệu Nam lúc vô đầu phải từ tốn, nhưng
không hiểu sao tôi vẫn yêu thích tiếng đàn rộn rã hơn.
Thưa chị, chắc chị lấy làm ngạc nhiên sao tôi cứ đề cập đến đàn
tranh hoài? Việc này cũng có nguyên do. Thưa chị, tôi vốn say mê
tiếng đàn tranh một cách cuồng si từ khi còn là một đứa bé ở một
làng quê Nam Bộ, vì ông ngoại tôi là một nhạc sư đàn tranh nổi tiếng
khắp làng. Ông cũng có cây đàn tranh khảm ốc xà cừ, đeo ngù đỏ,
giống y hệt cây tranh của cô Hải Phượng. Đến nay, bao nhiêu năm
tháng đã trôi qua, thế mà sự si mê đàn tranh trong tôi chẳng những
không suy giảm mà còn tăng thêm gấp bội, song song với nỗi buồn
nhớ quê hương. Bởi thế, lần đầu tiên xem màn tam tấu, lúc tiếng
đàn tranh rao trỗi lên thánh thót, réo rắt, tôi bàng hòang xúc động
tưởng như vừa tìm gặp lại âm thanh thân thương của thuở nào, bên
cạnh ông ngoại tôi. Và trước đây, lâu lắm rồi, lúc còn ở quê nhà,
tôi cũng có võ vẽ học đàn tranh đôi chút. Nhưng khổ thay, ngón tay
của tôi thuộc hàng gỗ tạp, gỗ xấu, chứ đâu được thuộc hàng ngọc
ngà như ngón tay cô Hải Phượng hay các cô tóc ngắn, tóc dài, thành
thử học hoài mà chẳng nên thân. Thuở ấy, những ai bạc phước nghe
tôi tập tành khảy bài "Tứ Đại Oán" hay
"Văn Thiên Tường" thảy đều muốn khóc
– khóc cho tiền đồ của nền cổ nhạc nước nhà sắp đến hồi mạt vận
nên mới có tiếng đàn như cú kêu, mèo gào, nhịp nhàng sai bét như
vậy. Chỉ nội có chữ "ú", chữ "xự" mà tập nhấn
mãi cũng chẳng xong. Cuối cùng tôi đành phải bỏ cuộc. Bỏ cuộc học
đàn, chứ sự si mê đàn tranh vẫn luôn cháy ngùn ngụt trong tôi. Giờ
đây, được nghe các cô đàn như phụng gáy non tiên, làm sao tôi có
thể ngăn được niềm xúc động dâng trào? Nhiều phen tôi thắc mắc:
các cô còn quá trẻ, làm sao có thể luyện được ngón đàn tranh tài
tình và điêu luyện như thế được? Sau cùng, tôi suy luận đó là khả
năng thiên phú cộng với sự luyện tập chuyên cần dưới sự chỉ đạo
của chị. Thưa chị, tôi quả tình không bao giờ có thể ngờ ban Tiếng
Hát Quê Hương lại có những tay đàn quá tài giỏi như vậy. Ngoài ba
cây tranh ra, các cây khác như: guitar, bầu, sến, cò – theo ý tôi,
cây nào cũng đạt tới mức thượng thừa. Chỉ có hai cây tỳ bà, vì đàn
quá nhỏ trong màn đại hợp tấu "Lưu Thủy Trường",
tôi nghe không rõ, nên chẳng dám có ý kiến. Còn cây kìm của giáo
sư Khê, tuy có điêu luyện thực, nhưng cũng không thể sánh với cây
sến của cậu ốm về phương diện bay bướm, tươi mát và sinh động. Về
phần ca diễn, cô Ngọc Tuyết có giọng ca rất dễ thương, điệu bộ rất
duyên dáng và tự nhiên. Giáo sư Khê tuy có tuổi mà giọng ca "đổ
hột" vẫn còn hấp dẫn mạnh người xem. Đặc biệt, điệu bộ của
ông khi trình bày các bản "Ngũ Đối Hạ"
và "Nam Xuân", thực đúng là điệu bộ của
một bậc thầy, tôi ngưỡng phục lắm. Tiện đây, xin chị cho phép tôi
được nói lên điều này: suốt cả cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ bị
xúc động mãnh liệt, kinh khủng, tột cùng cho bằng như lúc nghe bài
đờn và ngón đàn tranh của cô Hải Phượng trong ba câu vọng cổ hòa
tấu. Nghe như phảng phất đâu đây tiếng đàn tranh của ông ngoại tôi
trước kia. Tôi xúc động đến nỗi mất ăn, mất ngủ suốt mấy ngày trời.
Vào sở làm thì bê trễ công việc, bị sếp cằn nhằn dữ quá. Giờ đây,
đã nghe trên trăm lần rồi, mà lần nào nghe lại, tôi vẫn còn bị xúc
động mạnh. Và đã bao lần, một mình trong đêm khuya thanh vắng, với
trí óc tập trung cao độ, tôi mở đi mở lại bài tam tấu và độc tấu
"Tứ Đại Oán", lắng nghe thật kỹ từng
tiếng đàn tranh của cô Hải Phượng, từng cái nhấn chữ của cô, để
tìm hiểu tại sao bài đàn này lại có sức hấp dẫn kinh hồn như vậy.
Tôi lại tò mò tự hỏi, không biết với các bài khác như "Đảo
Ngũ Cung", "Xàng Xê", "Trường
Tương Tư", "Phụng Hòang"…
bài đàn và ngón đàn của cô ấy có còn được như thế hay không?
Thưa chị, trong tủ băng video của tôi, trướo đây tôi quý nhứt,
trân trọng nhứt cuốn video vở cải lương "Ngã Rẽ Tâm Tình"
với Tám Vân, Phượng Liên, Thanh Tú, Bảo Quốc, Thanh Hằng… và với
nhạc sĩ Vũy Chỗ đàn tranh. Nhưng bây giờ, cuốn video Tiếng Hát Quê
Hương đã oanh liệt chiếm ngôi vị ấy rồi. Niềm ước mơ tha thiết nhứt
của tôi hiện giờ là có thêm cái may mắn được xem tiếp video của
Tiếng Hát Quê Hương. Tuy nhiên, nghĩ lại thì niềm mơ ước ấy có lẽ
chỉ là hão huyền thôi. Việt Nam – Úc Châu, đại dương cách ngăn diệu
vợi, biết đến bao giờ mới được niềm vui gặp lại ban Tiếng Hát Quê
Hương, dù đó chỉ là một hạnh ngộ một chiều trên màn ảnh tivi.
Thưa chị, tôi thành thật cám ơn chị, cám ơn ban Tiếng Hát Quê Hương
và giáo sư Khê đã đem đến cho tôi những giờ phút diễm tuyệt nhứt
trong kiếp sống ly hương nơi xứ lạ quê người. Tiếng đàn, câu ca
của ban Tiếng Hát Quê Hương và của giáo sư Khê đã sưởi ấm rất nhiều
tâm hồn tôi giữa cái lạnh căm căm của mùa đông xứ Úc.
Tôi xin phép ngưng bút nơi đây và kính chúc chị nhiều sức khỏe
để dẫn dắt ban Tiếng Hát Quê Hương ngày càng thêm khởi sắc. Tôi
xin gửi đến các cô cậu trong ban Tiếng Hát Quê Hương lời chào thân
ái với muôn vàn cảm tình nồng đậm nhứt.
Trân trọng kính chào chị,
Kính thư,
D.N TRẦN
AUSTRALIA
|