ĐÀN TRANH – ĐÊM NHẠC CỦA CÕI TƯƠNG PHÙNG

Giao luu voi co Thuy Hoan

Chẳng biết có trùng hợp hay không mà nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan lại tổ chức một buổi trò chuyện âm nhạc vào đúng vào ngày "Cá Tháng Tư" dành cho cây đàn tranh? Ẩn ý đặc biệt gì chăng? Có lẽ "Nét đẹp trong tiếng đàn tranh" là nguồn huyền nhiệm khơi gợi những ai có cái tâm muốn khám phá ý vị sâu sắc trong năm cung nhạc ấy. Đêm hội ngộ…Cũng là đêm của ý tình…

Mà không hội ngộ sao được! Ngẫm lại cũng cảm thấy có chút gì tựa nhân duyên giữa người với người, giữa cổ với kim, giữa hư và thực. Địa điểm hành lang Bích Câu – cái tên nghe thơ mộng biết chừng nào – như thầm nhắc tích xưa Tú Uyên gặp Giáng Kiều trong đêm thanh gió mát. Khung cảnh ấm cúng, ánh đèn vàng lan tỏa đến từng khuôn mặt các khán giả mộ điệu thân thương, những chiếc ghế gỗ nhỏ mà trầm mặc như một thóang cung đình, một sân khấu nhẹ nhàng, gần gũi nhưng vẫn mang ít nhiều nét thính phòng hoài cổ… đã đem đến một bầu không khí trang trọng khi giới thiệu về nhạc cụ cổ truyền. Những người nghệ sĩ nhạc dân tộc cũng thật là tinh tế xiết bao! Khéo thay chiếc áo dài vàng duyên dáng điểm những bông hoa cúc thêu như đang nhảy múa mừng thu sang của Hải Phượng! Đẹp thay dải áo dài đậm đà màu cam đất của Uyên Trâm, mà ngầm nói gì khi chiếc xích lô chở người con gái đội nón lá qua chợ Bến Thành vẽ trên tà áo lại dễ thương đến thế! Càng ngơ ngẩn sao màu áo hiền nhiên như tơ vương của cô Thúy Hoan, người nghệ sĩ nhạy cảm vô cùng với cuộc đời, thì hình ảnh chiếc lá nâu trên ngực áo nào khác chi hình ảnh vô ngôn đầy dư vị của tinh thần phương Đông! Đúng là họa – nhạc tương phùng! Tất cả màu sắc ấy, bài trí ấy hòa quyện vào nhau khiến lòng người thêm rung động. Thị giác đánh thức trước nhất nỗi bồi hồi của ngần ấy con người, và cái tâm, đi tìm những cảm quan còn lại trong suốt đêm trò chuyện…

Tự nhiên, cởi mở trên sân khấu, cô Thúy Hoan giới thiệu vài nét về chương trình thử nghiệm lần đầu của Tiếng Hát Quê Hương, là một dịp giao lưu xóa đi khỏang cách xa – gần giữa người nghệ sĩ và khán giả, cũng là một hình thức học ngoại khóa đối với những học viên của câu lạc bộ muốn tìm hiểu thêm nền âm nhạc cổ truyền mà trên lớp không đủ thời gian để trao đổi. Vậy thì đêm nay, những điều thắc mắc ấy sẽ có lời giải đáp, sẽ có dòng nhạc mở mạch tuôn tràn cho cái biết được thỏa mộng đi tìm. Điệu dân ca tha thiết "Bèo dạt mây trôi" mở màn bằng tiếng đàn tranh réo rắt của Hải Phượng, Uyên Trâm, các học viên lớp đàn tranh cùng giọng hát mộc mạc giản dị của tòan thể khán giả tham gia. Với sự góp mặt của ca sĩ Hạnh Nguyên, bài dân ca Bắc bộ càng ngọt ngào khắc khoải hơn trong nỗi đợi chờ mà người con gái chung thủy trông ngóng người yêu. "Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi, anh ơi em vẫn đợi vẫn chờ…", câu hát vang lên mãi cùng tiếng đàn tưởng chừng như không dứt. Sau phần giao lưu ca hát là buổi nói chuyện thân mật để tìm hiểu cây đàn tranh. Lời phi lộ khéo dẫn dắt làm sao:

" Đàn tranh lệ đúc nghìn xưa
Tay ai khơi mạch bây giờ lệ tuôn."
(Trụ Vũ)

Từ lịch sử, dáng vẻ, âm thanh, nội tâm cho tới cách diễn tấu của người nghệ sĩ lần lượt được phân tích thành một hệ thống rõ ràng cùng nhiều cách minh họa sống động. Giọng nói của nhạc sĩ Thúy Hoan dịu dàng thiện cảm khiến cả khán phòng yên lặng lắng nghe. Hãy thử tìm về cội nguồn của cây đàn tranh Việt Nam:"

Các bạn và các em thân mến,
Cây đàn tranh có nguồn gốc từ cây đàn Guzheng (cổ tranh) của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và cùng loại với những nhạc cụ khác của Châu Á. Ở Nhật thì có cây Koto, Triều Tiên thì có đàn Kayageum, Mông Cổ thì là cây Yatga, và Việt Nam có cây đàn tranh. Tuy nhiên, khi du nhập vào nước ta, hòa mình vào sắc thái dân tộc thì cây đàn tranh lại mang những tính chất độc đáo và phong cách riêng biệt của người Việt Nam.
Trước đây chúng ta hay gọi cây đàn tranh là thập lục huyền cầm bởi vì nó có mười sáu dây, nhưng giờ đây chúng ta gọi chung là đàn tranh vì ngày nay đàn đã được cải tiến thêm nhiều dây nữa. Đàn tranh có loại cổ điển mà chúng ta thường gọi là 16 dây, sau là 17 dây rồi tăng dần lên 22 hoặc 25 dây theo yêu cầu của nhạc phẩm. Đàn tranh được làm bằng gỗ tung, ngô đồng hay cẩm lai, mặt đàn uốn cong, đáy đàn bằng phẳng có khoét ba lỗ. Theo như cách ví von của người xưa, mặt đàn tượng trưng cho vòm trời, đáy đàn tượng trưng cho mặt đất, trời đất giao nhau, gặp gỡ giữa năm cung . Còn ngày nay, hình ảnh ấy vượt ra ngoài cách nhìn của cổ nhân và được diễn tả khác đi. Cầu đàn và con nhạn dùng đỡ dây cũng hóa sinh động hơn qua đôi mắt của nhà thơ Nguyễn Hải Phương:

"Tay em như ướp bằng thơ
Hóa thân thành bướm vờn hoa sóng dài
Mặt đàn như nước sông đầy
Cho cầu nổi sóng, cho bầy nhạn sa…"

Thật là thi vị! Chỉ mới là hình dạng bên ngoài mà đã khiến mắt thơ ngẩn ngơ rồi! Lại nói về ba cái lỗ dưới đáy đàn. Lỗ nhỏ phía đầu để treo đàn lên vách, có hình quả trám, hay cầu kỳ hơn nữa người thợ có thể chạm hình trái tim. Chính giữa là một lỗ hình chữ nhật để cho âm vang và cũng để cầm đàn khi di chuyển. Lỗ thứ ba phía cầu đàn để luồn tay vào nối dây, và cũng là nơi âm thanh vang ra, có hình bán nguyệt. Nói về cái lỗ thứ ba này, cô Thúy Hoan kể lại một kỷ niệm:

"Trong lần tôi tham dự một liên hoan giao lưu về cây đàn tranh Châu Á, có phần mỗi nước tự giới thiệu đặc điểm cây đàn của quốc gia mình. Tôi còn nhớ đòan Nhật Bản đã giới thiệu rất hay với những hình ảnh ví von cao nhã. Nào là truyền thuyết tiên nhân, nào cầu đàn là đầu con rồng, dây đàn là sợi gân rồng, nào hai thành đàn là hai thành bờ biển… thật thơ mộng quá! Tới lượt đòan Việt Nam giới thiệu. Sau vài nét về các bộ phận, tới lượt ba cái lỗ đáy đàn. Hai cái trên giới thiệu dễ dàng nhưng đến cái thứ ba bỗng nhiên hơi khó để diễn tả. Người Nhật đã nói rất hoa mỹ, còn cái lỗ hình bán nguyệt của đàn tranh Việt Nam thì sao? Tôi mới nói với mọi người rằng, người Việt Nam sống rất tình cảm và ý nhị, nên cách nói chuyện và nhất là cách tỏ tình cũng rất tinh tế, không vội vàng, không vồ vập. Ca dao chúng tôi có một cách biểu hiện thế này khi người con trai tỏ tình với người con gái:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thời anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa chân mày chết cá ao anh…

Cái lỗ hình bán nguyệt của chúng tôi cũng đẹp như cách nói đó, các bạn ạ! Và mọi người trong buổi giao lưu ngày hôm đó vỗ tay tán thưởng cây đàn của chúng ta nhiệt liệt, khen ngợi rằng với chỉ một chiếc lỗ nhỏ thôi mà chứa cả một trời đầy ý tình sâu sắc!".

Khán giả có vẻ rất thích thú và đã tặng cho cách giải thích tuyệt vời của cô Thúy Hoan một tràng pháo tay giòn giã! Không những nói riêng về cấu tạo của cây đàn, cô Thúy Hoan còn diễn giải thêm về các phụ kiện khác, bao gồm các loại móng để khảy đàn (làm bằng đồi mồi hay inox) và cách chỉnh sửa chúng, trục để điều chỉnh âm thanh (có nhiều hình dạng), thứ tự các dây đàn (dây trầm số 30, dây vừa số 25 và dây âm cao số 20). Ngoài ra, cách ngồi của người chơi đàn tranh cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng và người chơi đàn có thể tùy thích mà chọn cho mình một kiểu ngồi phù hợp. Tôi tưởng tượng đến hình ảnh một thiếu nữ đang dạo lướt năm cung mà bỗng nhiên nảy ra mấy lời thơ:

"Dáng em liễu rũ, lau gầy
Tà thanh thiên chở đong đầy gió êm
Cỏ hoa nâng gót chân mềm
Cho tươi điệu nhạc, cho hiền vóc ai…"

Câu chuyện về cây đàn tranh còn là sự khám phá lôi cuốn đầy màu sắc của các kỹ thuật diễn tấu, mà từ đó đưa ta vào mông mênh tâm trạng của người đàn và người thưởng thức…

Một tiếng rung có thể làm nát ngọc tan hồn:

"Nhạn trời mười sáu cánh chợt vút cao
Tóc tơ bay giữa đất trời lồng lộng
Em liêu trai và em thành cuộc mộng
Dấu rung ngân ba động khắp cõi người…"

Một dấu nhấn làm cả thành sầu rơi rụng:

"Thành sầu ai khóc mà thương?
Ai đau mà nhớ, ai buồn mà vương?
Ai làm mưa lệ rơi tuôn?
Nhấn vào thăm thẳm đêm trường nghìn sau…"

Một ngón vuốt day dứt đến nặng lòng:

"Năm cung dấu mộng tình xưa
Vuốt lên thương nhớ cho vừa nhớ thương
Tơ lòng trĩu nặng bên đường
Nghiêng nghiêng sợi tóc khôn lường đắm say…"

Và bàn tay mổ xuống dây đàn như tiếng kêu tìm nhau của đôi chim loan, chim phượng:

"Mổ vào vô tận kiếp này
Tìm nhau loan phượng tan bầy tội sao
Tiếng kêu máu đổ lệ trào
Nhớ nhau còn đó quặn bào xót xa…"

Bàn tay phải là phần xác, nhưng bàn tay trái lại thổi hồn cho nhạc. Xác lạnh, hồn tươi. Đôi bàn tay hòa điệu như sự hòa hợp của ý-lời, như nơi giao hội của âm-dương. Người đàn trải lòng trên từng phím tơ, người nghe đón nhận tâm tình trong từng tiếng nhạc, và biết đâu lúc nào đó ta sẽ tìm thấy một tri âm?

Nhạc sĩ Thúy Hoan nói: "Chúng ta học đàn, đánh đàn trước nhất cần phải cảm được cái ý nhạc. Bất cứ tác phẩm nào cũng vậy, cũng đều có ý nghĩa riêng của chúng và được biểu đạt bằng âm thanh. Qua đó, ta có thể ít nhiều hiểu được nét nhạc, nội dung của bài nhạc, rồi biết cảm nhận mà nâng niu, tu chỉnh tiếng đàn cho hay hơn, thể hiện được cảm xúc trong khi tập luyện cũng như khi biểu diễn một cách tự nhiên hơn. Tôi nhận thấy chúng ta học đàn có một khuyết điểm mà hầu như khán giả nào cũng góp ý, đó là việc ngồi đàn mà cứ cứng đơ như tượng đá. Lúc đàn thì rất tốt, nhưng gương mặt lại ít biểu cảm theo tiếng nhạc. Quan niệm sai lầm của chúng ta trong việc thả hồn vào âm nhạc nên được thay đổi. Tại sao cứ cho rằng hễ một cái mỉm cười, một động tác nhấc tay kéo dây thật đẹp hay đưa mắt nhìn theo đôi tay rung nhấn trên dây lại là làm điệu? Đó không phải là điệu! Chính cách ngồi cứng đơ như tượng thế kia mới là điệu đó! Quý vị nghĩ xem có phải không? Có khán giả nào lại thích người nghệ sĩ ngồi đàn trên sân khấu mà không có chút cảm xúc không? Tất nhiên là không thích mấy rồi phải không quý vị? Cho nên khi học nhạc dân tộc chúng ta rất cần chú ý những điểm này để diễn đạt vừa hay mà vừa đẹp nữa. Nhất là khi khảy cây đàn tranh…".

Và cô dẫn chứng: "Có lần, Tiếng Hát Quê Hương cùng diễn chung với Thomas Đặng Vũ Thuấn, một sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài. Anh này là người Việt nhưng có học cây đàn Cổ tranh của Trung Quốc. Thomas cho biết quan niệm về biểu diễn của người Trung Quốc là thể hiện một tác phẩm cũng như vẽ một bức tranh vậy. Từ nhát cọ đầu tiên, hay tiếng đàn đầu tiên, mỗi nét bút hay mỗi âm thanh đều mang một hàm ý diễn tả cái gì đó. Có khi là tuyết rơi, hoa nở, trăng lên, có lúc lại nghe như kiếm cung sát phạt, giọt sầu nỉ non… Một động tác vỗ trên dây mà hình dung ra cả một thế cước quyền trong võ học, một động tác kéo đàn mà tưởng như nước chảy mây trôi… Lại có những nhạc phẩm mang tính chất mạnh mẽ chỉ dùng cho người nam biểu diễn vì đủ nội lực để tung hoành. Nhạc phát ra là ý mênh mang. Người biểu diễn luôn đặt hết cả tâm ý tương thông vào trong nhạc phẩm. Tôi nói ra đây là nhằm mục đích khuyến khích mọi người học đàn nên tiếp thu cái hay của nước bạn để phát triển cho mình. Đó là tác phong biểu diễn chứ không có gì là điệu cả. Thể hiện cái cảm của riêng mình cũng giống như con thuyền trên mặt nước vậy. Triều lên, thuyền cũng lên theo. Triều xuống, thuyền cũng theo xuống. Hết sức tự nhiên! Bởi thế khi học đàn tranh chúng ta cũng phải học luôn cái cách diễn tả nội tâm. Người đàn vui thì điệu nhạc rộn ràng, người đàn buồn thì điệu nhạc như thở dài chua xót…"

Đàn tranh quả là có biết bao điều lý thú! Tôi gọi cái việc cảm thụ nét nhạc ấy là một quá trình chuyển biến tâm trạng vô cùng kỳ diệu của con người. Dường như đến với âm thanh của đàn tranh người ta bỗng muốn sống sâu sắc hơn, bởi tự trong tiếng nhạc luôn ẩn chứa những dư tình. Càng nghe ta càng cảm thấy bồi hồi. Học một nhạc cụ dân tộc mà ta ngẫm ra nhiều điều có ích. Trước hết mình biết tôn trọng mình trong lúc biểu diễn, rồi biết tôn trọng khán giả mà cố gắng o bế tiếng đàn, chuyên cần rèn luyện, sau đó là cảm nhận cái hay cái đẹp để truyền cho mọi người và phát huy cái tốt đó rộng khắp. Người Việt Nam có truyền thống sống tình cảm, cho nên sự tế nhị trong tiếng đàn trở thành một trong những yếu tố chính. Cách diễn tấu của ta không nghiêng nhiều về kỹ thuật như một số nước mà nghiêng nhiều về sự biểu cảm của bàn tay trái-bàn tay của tâm hồn tình cảm- luôn được xem là yếu tố rất quan trọng để đánh giá so sánh trình độ từng người. Người sử dụng tay trái càng khéo léo, càng hay, càng độc đáo uyển chuyển và khiến cho người khác cảm động thì càng nâng cao được giá trị của một tác phẩm âm nhạc.

Đặc biệt trong chương trình, nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan đã minh họa về cây đàn tranh rất sinh động bằng rất nhiều áng thơ của các thi hữu. Có lẽ các nhà thơ với tâm hồn đa cảm của mình khi nghe tiếng đàn tranh đã cầm lòng không đặng mà viết nên những lời ca ngợi:

"Thoạt tiên gieo một chuỗi cười
Ngón mềm nhún nhảy trên mười sáu dây"
(Nguyễn Văn Thinh)

Cái ngón Á độc đáo chỉ có ở đàn tranh qua đôi tai của nhà thơ Nguyễn Văn Thinh nghe như "một chuỗi cười". Có người lại nghe như tiếng nước chảy, có người lại nghe thành tiếng gió thổi lá cây… Thật vô vàn hình tượng! Đối với các em thiếu nhi học đàn tranh, việc hình tượng hóa cây đàn với những hình ảnh sống động dễ thương như vậy sẽ khơi dậy niềm yêu thích của các em đối với nhạc dân tộc. Nhạc sĩ Thúy Hoan cũng viết tặng cho các học sinh nhỏ của mình những câu đáng yêu:

"Bàn tay thoăn thoắt trên dây
Như đôi bướm trắng lượn bay trên cành"

Và viết cho đàn tranh nhiều hơn hết thảy có lẽ là nhà thơ Nguyễn Hải Phương. Phải chăng có duyên có nợ với người đàn, với tiếng đàn mà người thi sĩ tài hoa đó trót vương vấn tơ tình trên trang giấy? Người thuở xưa đã ra thiên cổ, mà tiếng thơ nào có nguôi ngoai nỗi niềm thương mến bao giờ…

ÁNH NHẠC
"Mười sáu dây tình lên tiếng khóc,
Dập dìu ánh nhạc tóc tơ bay
Cung đàn bạc mệnh nào đây?
Nỉ non khóe mắt, hao gầy dáng thơ
Ngón tay ướp lệ bao giờ
Nghìn thu nhung nhớ vật vờ tìm nhau
Bờ môi chín ủ trái sầu
Hắt hiu lời gió cho đau nắng vàng
Tay em nhẹ níu cung đàn
Đưa anh về với biển ngàn xót thương…"

Người tri kỷ đọc lại những câu thơ thuở trước, hỏi người tri kỷ nơi bến bờ kia có còn nhớ chăng? Không gian đêm nhạc trong giây phút ấy lắng đọng để quay về hoài niệm, giọng thơ xót xa "nghìn thu nhung nhớ vật vờ tìm nhau". Bài thơ khép mở hai cõi lòng, một ở rất xa, một còn vọng bóng nơi đây. "Mười sáu dây tình lên tiếng khóc-Dập dìu ánh nhạc tóc tơ bay", tiếng đàn cũng vội tìm nhau, cũng "hắt hiu lời gió cho đau nắng vàng". Có chút gì trong "ánh nhạc" ngày xưa trở về trong đêm nay, dặt dìu trong đêm nay, nhung nhớ trong đêm nay, để rồi "biển ngàn xót thương" ấy hẹn một ngày nào đó dây tình chuyển khúc, người mộ điệu lại có thể "lắng tai Chung Kỳ":

"Sao không chuyển khúc tơ vương
Cho xanh ánh nhạc, cho hường bờ môi?"

Đêm nay là đêm đàn tranh hay đêm tái ngộ, hỡi ánh nhạc nghìn thu?...

Nhạc sĩ Thúy Hoan có giới thiệu một học trò nhỏ của mình cùng với những sáng tác của em viết tặng cô, tặng cho những điệu đàn nồng say mà em cảm nhận được trong những lúc tràn đầy niềm hứng thú. Thơ viết cho đàn, hay thơ trải tình mình vào tiếng nhạc? Em đọc, mà lòng như thổ lộ tình yêu:

"Mấy thuở cung đàn dệt ngẩn ngơ
Ai rung tay ngọc dưới trăng mờ
Cho bao thương mến người nghệ sĩ
Điệu nhạc nồng say những tóc tơ"

Người nhạc sĩ tỏ bày:
"Mỗi lần Tiếng Hát Quê Hương có chương trình biểu diễn, tôi đều mời các nhà thơ đến xem, qua đó, có thể khơi mạch nguồn cảm hứng đối với tấm lòng yêu thương của thi sĩ dành cho cây đàn tranh, cho âm nhạc dân tộc mà viết nên những câu thơ tuyệt mỹ. Thơ viết cho cái đẹp trên sân khấu phương Đông, tâm hồn và tình cảm của người Á Đông. Các nhà thơ có một thính giác tinh nhạy, họ nghe những ý lời không ai tìm thấy được để trỗi lên cung nhạc cho riêng mình, cũng như tặng khách tri âm. Và những câu thơ, đôi khi còn là một mối tình gắn kết người với nhạc. Tôi rất mong những tấm lòng thấu hiểu yêu thương dành một chút góc nhỏ trái tim mình cho nhạc cổ truyền của chúng ta, để trong thơ còn vang dậy tiếng tơ đàn mãi hoài âm…". Đúng là đêm thi-nhạc tương phùng!

Phần trình diễn của hai nghệ sĩ Hải Phượng và Uyên Trâm trong đêm nhạc cũng đã đem đến không khí thưởng thức văn nghệ đầy chất thi và họa. Mỗi người một vẻ, và mỗi nhạc phẩm là một cách diễn tả hấp dẫn riêng. Hải Phượng với "Tình đất đỏ miền Đông" tràn ngập tình yêu quê hương bao la, nụ cười tự tin và những ngón tay bay bổng như đưa hình ảnh đất đỏ vẽ ra trước mắt khán giả. Còn Uyên Trâm lại dạt dào cảm xúc thiết tha trong "Vàm cỏ Đông", tiếng đàn như tiếng sóng nước vỗ vào mạn thuyền làm lòng người thêm lưu luyến. Hai người nghệ sĩ, hai đôi tay lả lướt trên cung đàn khiến ta dễ dàng buông lơi theo dòng nhạc cảm. Tiếng tranh réo rắt không lời mà dư vị ngát đầy…

Cuộc vui rồi cũng đến lúc tàn. Chén nước vối chuyền tay nhau, đằm thắm tình đàn, tình người qua những giai điệu mượt mà của tiếng tranh. Tấu lên khúc ca "Lối về xóm nhỏ", bài hát "Cò lả" thân quen, cả người nghệ sĩ lẫn người khán giả mở tấm lòng thực của mình để cảm nhận những nét đẹp của đàn tranh, của âm thanh đưa tất cả đến gần gũi bên nhau. Người nghệ sĩ đón nhận những tấm chân tình của khán giả, còn người thưởng thức lại cứ muốn sống hoài trong từng lời của năm cung. Trong tiếng đàn, chúng ta dường như sống thật, thật với mình, thật với cảm xúc, và thật với tâm hồn. Ngẫu nhiên ngày "Cá Tháng Tư" trở thành cái nền đối lập nhằm nâng lên cái ý nghĩa "thật" của buổi nói chuyện. Ngày này khi người ta đùa cợt nhau để tìm chút niềm vui chóng tàn thì đêm nay ta lại không biết "dối" lòng qua tiếng đàn đầy yêu thương. Nếu không thật với cảm xúc, ai lại có thể cảm động và cũng thấy dứt day khi nghe "ánh nhạc" qua tâm tình của một người tri kỷ? Ai lại có thể vui thích vỗ tay hát theo những bài dân ca trữ tình đậm đà? Ai lại ngẫm nghĩ cả về tấc lòng của khách tri âm khi mình còn loanh quanh đi tìm trong thương nhớ?...Tất cả hội về với sợi dây tình cảm rất thật, rất tự nhiên. Tự nhiên như bản thân vốn sẵn là vậy. Cây đàn tranh vẫn chưa khép lại đêm nhạc ấy, bởi tự trong lòng mỗi chúng ta, tiếng đàn sẽ còn mãi vang vọng cùng nỗi tự tình của nó. Phải, đêm hội ngộ…đêm của ý tình… cõi tương phùng hỡi đàn tranh!

Khánh Vân
Viết cho đêm nhạc đầy ý nghĩa của cô Thúy Hoan
Saigon 04.2006

 

HomeAbout usActivitiesMusic and Video 25th anniversaryInstrumentsSheet MusicTraditional songs

Copyright © 2007 Tieng Hat Que Huong. All rights reserved.
Contact: info@tienghatquehuong.com

Home Contact us Sitemap