Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan
 |
| Nhà giáo
ưu tú Phạm Thúy Hoan |
Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan sinh năm 1942 tại Nam Định,
bố là người mê cầm chầu ca trù, mẹ là hoa khôi của làng Lộng Khê
tỉnh Nam Định. Không xuất thân trong gia đình có truyền thống nghệ
thuật như nhiều nghệ sĩ khác, nhưng cô đã gắn bó suốt cuộc đời của
mình cho nghệ thuật nhạc cổ truyền nói chung và cây đàn tranh nói
riêng.
Đàn tranh như một duyên nợ
Khoảng năm 1953-1954, gia đình chuyển vào Sài Gòn, cô bé Thúy Hoan
lúc đó chỉ mới hơn 10 tuổi, thường được chị Khánh Linh (con gái
của bạn thân của mẹ) dẫn đi chơi...
Một chiều mùa hè năm 1957 Khánh Linh dẫn Thuý Hoan vào trường Quốc
gia Âm nhạc và Kịch nghệ (QGÂN&KN) Sài Gòn - nơi Khánh Linh
đang học đàn tranh - một mình Thúy Hoan lang thang từ phòng học
này qua phòng học khác để xem mọi người học đàn. Thật tình cờ khi
đến phòng học đàn tranh, cô bé Thúy Hoan như bị tiếng đàn tranh
mê hoặc, ngẩn ngơ trước những âm thanh thánh thót, nhẹ nhàng, dìu
dặt, sâu lắng... Là một học sinh rất yêu thích môn văn, thuộc rất
nhiều ca dao, tục ngữ Thúy Hoan thấy âm nhạc dân tộc có những điều
rất gần gũi với môn văn mà mình yêu thích, hơn thế nữa nhạc dân
tộc qua tiếng đàn tranh, đã gợi cho cô những cảm xúc sâu lắng lạ
lùng mà cô không tìm thấy trong môn học văn ở trường phổ thông.
Thế là cô gắn bó với thế giới âm nhạc cổ truyền từ đó.
Những người thầy
Có thể nói chị Khánh Linh là người thầy đầu tiên trong sự nghiệp
âm nhạc của Thúy Hoan, được chị Khánh Linh dạy những ngón đầu tiên
của đàn tranh và sau đó, Thúy Hoan thi vào trường QGÂN&KN Sài
Gòn (1958), học môn chính: đàn tranh và môn nhiệm ý: đàn tỳ bà.
Tuy nhiên, việc học nhạc ban đầu đơn thuần chỉ vì sự yêu thích chứ
chưa nghĩ đó là con đường mà mình sẽ theo nó suốt đời.
Tại trường, cô học đàn tranh với các thầy giáo: Nguyễn Hữu Ba,
(nhạc miền Trung), thầy Trần Viết Vấn (nhạc miền Bắc) và thầy Nguyễn
Vĩnh Bảo (nhạc miền Nam). Các thầy là những người đã giúp cô cảm
nhận đầy đủ những vẻ đẹp quyến rũ của những nốt đàn, chữ nhạc dân
tộc trong dân ca của cả ba miền đất nước, làm cô càng yêu và càng
say đắm nó, để có thể thay đổi cả một ước mơ mà cô đã đã từng ấp
ủ, đó là: vào học trường sư phạm và trở thành cô giáo dạy văn. Cô
đã không vào trường sư phạm nữa mà quyết định theo ngành nhạc. Bởi
cô nghĩ rằng tại sao bản thân mình thấy được cái hay, cái đẹp trong
nhạc dân tộc mà lại không tuyên truyền, phổ biến để mọi người cùng
thưởng thức. Mặc dầu có nhiều khác biệt giữa lĩnh vực văn học và
âm nhạc, nhưng chúng đều có một cái chung là thuộc lĩnh vực tâm
hồn và cô đều được làm cô giáo. Những buổi học đàn, thầy Nguyễn
Hữu Ba thường đọc những bài thơ do mình sáng tác, cô nhớ nhất là
các câu:
Nguyền nối lại cung đàn vạn thuở
Nắn ngàn xưa rung chuyển tận nghìn sau
Để cung đàn xoa dịu nỗi thương đau
Bởi cuộc thế bể dâu tan biến mãi...
Với tâm hồn yêu thơ văn và với thực trạng rất ít người biết đến
cây đàn tranh lúc bấy giờ, những câu thơ của thầy Nguyễn Hữu Ba
như một lời động viên, nhắc nhở, hãy "nối lại cung đàn vạn
thuở" của cha ông làm cho cô có thêm nhiều nghị lực và càng
quyết tâm hơn để học tập và phổ biến cây đàn tranh đến đông đảo
mọi người.
Năm 1962, tốt nghiệp thủ khoa môn đàn tranh và năm 1963 tốt nghiệp
thủ khoa môn âm nhạc phổ thông, cô trở thành giảng viên giảng dạy
môn đàn tranh của trường QGÂN&KN Sài Gòn.
Cũng sau khi ra trường, tâm đắc và cảm phục "Lá thư hải ngoại"
của Gs. Trần Văn Khê đăng trên báo Bách Khoa, cô đã viết thư xin
được làm học trò của ông. Từ 1962 đến 1974, tuy hai thầy trò chỉ
trao đổi qua thư từ nhưng chính Gs.Trần Văn Khê là người đã tạo
thêm cho cô những niềm tin vững chắc, là người giúp đỡ và uốn nắn
những lúc cô dao động bất lực với chính cây đàn tranh của mình.
Sau ngày ra trường với nhiệt tình tuổi trẻ, cô đã đến biểu diễn
đàn tranh và nhạc dân tộc tại rất nhiều trường trung học ở Sài gòn,
Đà Lạt, Long Xuyên... và là trưởng Nhóm Dân ca quốc nhạc Hoa Sim.
Nhưng cũng có những lúc cô cảm thấy bất lực và muốn bỏ nghề vì chưa
tìm được cách thể hiện được những ý tưởng của mình trên cây đàn
tranh, nhất là những tình cảm sôi nổi, nồng nhiệt của tuổi trẻ.
Những lúc bị dao động như thế, chính Gs. Trần Văn Khê đã giải thích
cho cô rằng không có một cây đàn nào là vạn năng cả, cái chính là
mình phải biết khai thác những ưu điểm của nó, diễn tả những điều
phù hợp với tính năng của nó.
Suốt một đời làm cô giáo
 |
| CLB Tiếng
hát quê hương |
Nghĩ rằng mình là người nối tiếp thế hệ của các thầy, học trò mình
lại nối tiếp mình, tất cả đều có chung mục đích là truyền nối lại
"cung đàn vạn thuở", chính suy nghĩ như vậy nên cô luôn
yêu quí học trò xem họ như những người bạn đồng nghiệp, cùng với
mình đồng hành đến đích chung.
Từ năm 1962-1975 cô là giảng viên đàn tranh của trường QGÂN&KN
Sài Gòn (trong đó năm 1968 cô là giảng viên biệt phái của Sài Gòn
ra dạy tại trưường QGÂN&KN Huế). Sau ngày giải phóng cô tiếp
tục giảng dạy tại Nhạc viện Tp.HCM cho đến ngày nghỉ hưu (1997).
Điều đáng nói trong giảng dạy, đó là sự trùng hợp trong quan niệm
về nhạc cổ và nhạc mới của cô đối với giáo trình sau ngày giải phóng.
Trước đây ở QGÂN&KN Sài Gòn, nhà trường không khuyến khích các
nhạc sinh đàn các bài bản nhạc mới vì sợ bị lai tạp. Nhưng những
tháng ngày biểu diễn ở các trường trung học cô lại thấy rằng những
bài bản cổ của đàn tranh rất hay, nhưng nó cũng cần người thưởng
thức phải biết một chút ít về nghệ thuật đàn tranh. Trong lúc muốn
giới thiệu cái hay của cây đàn tranh đến với đông đảo quần chúng
(nhất là những học sinh, sinh viên) thì việc biểu diễn những bài
nhạc mới, những bản nhạc quen thuộc với mọi người, là phương pháp
đơn giản và hiệu quả nhất.
Trong suốt 42 năm làm nhà giáo (từ 1962 đến nay), cô đã đào tạo
rất nhiều thế hệ trẻ đàn tranh. Học trò của cô có nhiều người đoạt
giải thưởng cao trong nước và đã biểu diễn rất nhiều ở trong nước
cũng như trong các liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế, tiêu biểu
như Diệu Quang, Lê Thị Kim, Hải Phượng, Uyên Trâm ... Song đáng
nói hơn là có nhiều học trò sau này đã mở những trung tâm, hoặc
tham gia giảng dạy đàn tranh trong những lớp nhạc ở nước ngoài như:
Lê Thị Kim, Tuyết Nga (Úc), Thiên Nga (Mỹ), Lương Thị Minh Châu
(Đan Mạch), ... Thế hệ học sinh hiện nay nhiều em có triển vọng
như: Vũ Chinh, Vũ Chính, Vân Anh, Kim Tiền, Thúy Hà, Châu Thúy,
Ngọc Dao ...
Trong quá trình giảng dạy, cô đã biên soạn rất nhiều tác phẩm làm
phong phú thêm cho giáo trình giảng dạy đàn tranh tại nhạc viện,
cũng như cho hệ thống giảng dạy phong trào như: Phương
pháp đàn tranh (tập I, II, III), Tiểu phẩm đàn
tranh, Ca khúc soạn cho đàn tranh (tập I, II, III,
IV), Dân ca soạn cho đàn tranh (Tập I, II, III).
Ngoài ra, cô cũng sáng tác một số tác phẩm cho đàn tranh độc tấu
như: Tình ca quê hương, Mùa thu quê hương, biến tấu Qua cầu gió
bay, biến tấu Lý chim quyên, Mơ về Bến Ngự... đặc biệt Tình ca xứ
Huế là một bản đàn được phổ biến rộng rãi trong giới biểu diễn đàn
tranh.
 |
Nhà giáo ưu tú
Phạm Thúy Hoan |
Với công lao đã đào đạo nhiều thế hệ học sinh đàn tranh xuất sắc
và có nhiều đóng góp xuất sắc cho phong trào văn nghệ quần chúng,
cô đã được tặng nhiều danh hiệu, huy chương, nhiều bằng khen của
thành phố và trung ương như: danh hiệu Nhà giáo ưu tú, huy chương
Vì sự nghiệp giáo dục", bằng khen Đã có công đào tạo Tài Năng
Trẻ đoạt giải xuất sắc tại các cuộc thi chuyên nghiệp toàn quốc,
khu vực trong cả nước và quốc tế...
Nay tuy đã nghỉ hưu, ở tuổi ngoài 60 cô vẫn còn tiếp tục công việc
dạy học thông qua CLB Tiếng hát quê hương - CLB mà cô đã xây dựng
từ 1981 và hoạt động liên tục cho tới ngày hôm nay. Cô nghĩ rằng,
phải cần tạo dựng từ phong trào để có một phạm vi hoạt động rộng
lớn cho mỗi một môn nghệ thuật. Phải tạo ra nhiều đốm lửa nhỏ như
thế mới có hy vọng thổi bùng lên những ngọn lửa lớn.
Hữu
Trịnh - Giai điệu xanh Online (May 11, 2004)
|