TUÔI TRẺ PHẢI BIẾT TỰ HÀO VỀ NỀN ÂM NHẠC DÂN TỘC
Cô Phạm Thúy Hoan đã từng đạt huy chương vàng quốc gia âm nhạc
và kịch nghệ Sài Gòn, tốt nghiệp thủ khoa môn đàn tranh năm 1962,
thủ khoa môn sư phạm âm nhạc phổ thong năm 1963. Hiện cô là phó
chủ nhiệm khoa nhạc cụ dân tộc nhạc viện thành phố, đồng thời là
chủ nhiệm CLB Tiếng Hát Quê Hương NVH Lao Đông. Cô cũng đã tham
gia biên soạn nhiều cuốn sách có giá trị, một trong những cuốn đó
là cuốn "Phương pháp đàn tranh" (tập 1), hiện đang tái
bản ở Mỹ (không xin phép tác giả) với giá bán 15USD/cuốn. Dưới đây
là đôi nét về thới SV của cô, do chính cô kể lại. (NSV)
Tôi bắt đầu học ở trường Quốc gia Âm nhạc năm 1958. Hồi đó rất
ít người theo học đàn tranh, thậm chí còn có người không phận biệt
được đàn tranh so với các loại nhạc cụ khác. Ngay từ thuở cò học
cấp I, cấp II, tôi đã rất thích văn chương. Đến khi nghe người ta
hát cũng vẫn những câu thơ ấy, nhưng khi được lồng nhạc vào tự nhiên
nó sinh động, lôi cuốn hẳn lên. Có thể nói, tôi tìm đến nhạc chứ
nhạc không có sẵn trong tôi như nhiều con nhà nòi khác.
Tôi đã chọn cho mình một hướng đi riêng với ý nghĩ giản đơn thời
đó là làm thế nào cho nhiều người biết đến nềm âm nhạc dân tộc,
như thế là cảm thấy vui lắm rồi! GS Trần Văn Khê có lần đã nói,
đại ý giá trị truyền thống muốn sống mãi thì trước hết phải được
thanh thiếu niên đương tời yêu mến, học hỏi và gìn giữ. Vì lẽ đó
mà tôi thường có dịp đi vào các Cô nhi viện, các trường phổ thông
thăm và biểu diễn đàn tranh cho các bạn nghe. Bản nhạc rất gần gũi
và được SVHS thời đó yêu thích là bản Đêm tàn bến Ngự. Qua bản nhạc
này, tiếng đàn tranh mới được phô diễn cái hay đầu tinh tế của nó.
Thỉnh thoảng ban văn nghệ SVHS "Nguồn Sống" do anh Nghiêm Phú Pháp
làm trưởng ban lại tổ chức các chuyến giao lưu văn nghệ với SV ĐH
Đà Lạt hoặc ban "Hoa Sim" do tôi phụ trách có lần cũng đã ra biểu
diễn tận ở Huế. Có một kỷ niệm rất lãng mạn mà cho đến giờ tôi vẫn
nhớ là chúng tôi đã thuê 3 chiếc đò cặp lại thả ra giữa dòng Hương
rồi ngồi đàn hát thâu đêm…
Ở trường có những cái không thuộc chuyên môn của mình thì không
bắt buộc phải học. Thế nhưng, lớp đàn tranh chúng tôi thời đó hầu
hết đều tự tìm hiểu thêm lớp ca để bổ sung, trau giồi thêm kiến
thức âm nhạc.Mỗi khi chợt nhìn thấy các thầy ngày một già đi, trong
chúng tôi ai cũng lo sợ một ngày nào đó sẽ không cò được học các
thầy nữa. Những kiến thức mà các thầy đã truyền lại cho mình, mình
phải có bổn phận gìn giữ, song gìn giữ không thôi thì chưa đủ mà
mình phải để gì cho thế hệ sau? Mỗi băn khoăn này đã trở thành động
lựcthôi thúc tôi cố gắng học như một món nợ phải trả.
Ngoài các thầy ở trường, tôi còn đi học thêm ở hầu hết các nghệ
nhân khác như thầy Bửu Lộc, thầy Vĩnh Phan, Thầy Vĩnh Trân…Mỗi người
có một phong cách riêng và những phong cách ấy đã là giàu cho vốn
hiểu biết của mình rất nhiều. Thời đó, tôi may mắn được thầy Trần
Văn Khê thường xuyên cung cấp những thông tin mới nhất về âm nhạc
dân tộc thế giới. Chẳng hạn như ở Tunisie, mỗi SV khi tốt nghiệp
muốn đi du học thì tiêu chuẩn hàng đầu là phải biết một nhạc cụ
dân tộc. Điều này khiến tôi suy nghĩ, tại sao nước ngoài âm nhạc
dân tộc lại được trân trọng như vậy, cò ở nước mình thì không ít
người thờ ơ với nó?
Thật đáng tiếc khi ngày càng có nhiều đoàn chuyên viên nước ngoài
đến tìm hiểu về âm nhạc dân tộc mình, trong khi mình còn quá ít
người thiết tha với vốn của cải quý giá ấy. Tôi nhớ lúc còn sống,
chú Lưu Hữu Phước có kể lại rằng có một bà người Philippin sau khi
nghe xong một buổi biểu diễn nhạc cổ truyền Việt Nam, đã phát biểu:
"Tôi có cảm giác như một đứa trẻ đứng trước một lâu đài tráng lệ
vậy!". Điều đó, cho thấy âm nhạc dân tộc mình không những hay mà
còn hết sức độc đáo nữa.
Tiếng đàn của mình còn ít người biết đến, điều đó không làm tôi
buồn mà chỉ nghĩ là do mình chưa tạo điều kiện để họ đến với âm
nhạc dân tộc như tổ chức các buổi diễn thuyết, nói chuyện chuyên
đề, biểu diễn truyền bá…Hơn lúc nào hết, tôi mong sao giới trẻ phải
biết tự hào về âm nhạc dân tộc mình. Muốn vậy chỉ có cách duy nhất
là phải tự tìm hiểu lấy.
H.T.H ghi
Báo Phụ Nữ ngày 03/06/1992
|